Pháo binh là lực lượng tác chiến của quân đội nhiều nước; lực lượng hỏa lực chủ yếu của lục quân, thường được trang bị các loại pháo, tên lửa và súng cối, dùng để sát thương, tiêu diệt các mục tiêu và trực tiếp chi viện hỏa lực cho các lực lượng tác chiến trên mặt đất, mặt nước, có thể chiến đấu hiệp đồng hoặc độc lập.

2

Pháo tự hành là một loại phương tiện mang lại sự cơ động cho pháo binh. Khái niệm này còn bao hàm cả các loại súng tự hành, lựu pháo và pháo phản lực. Nó có đặc điểm là có tính cơ động cao, nhờ vào sử dụng bánh xích nên không cần các phương tiện xe kéo chở đi và có thể tự di chuyển. Pháo tự hành được dùng để làm hỏa lực hỗ trợ tầm xa trên chiến trường.
Vào thời gian Thế chiến II, pháo tự hành đặc biệt được quân đội các phe Đồng Minh-Trục-Liên Xô sử dụng. Chúng còn được lắp vào pháo cho các loại xe bọc thép và xe tăng.
Vào thời nay, pháo tự hành đã có nhiều chuyển biến về cả thiết kế và lắp ráp. Chúng được thêm nhiều bộ phận như: hệ thống treo hiện đại, phuộc súng,... Giống như quá khứ, các loại tăng tự hành đều có súng phụ để bảo vệ khỏi những tay bộ binh. Khác xa với sơn pháo đẩy bằng bộ binh thế kỉ 19-20, pháo tự hành hiện đại được bảo vệ bằng một lớp giáp từ tương đối-dày, nhằm bảo vệ kíp lái một cách tốt nhất.
Pháo tự hành có rất nhiều ưu điểm mà từ trước đến nay quân đội các nước luôn muốn sở hữu trong quân đội của mình. Thứ nhất pháo tự hành có độ linh hoạt cao, đạt được tầm bắn xa và hỏa lực lớn. Thứ hai, pháo tự hành có thể được lắp ráp dễ dàng, ít tốn chi phí và đặc biệt có độ sát thương cao. Những tính năng trên làm cho pháo tự hành trở thành một trong những loại vũ khí mà bất cứ quân đội nào thời hiện đại nào cũng phải sở hữu.

2

Thế chiến II

2

ISU-152K biệt danh "kẻ diệt quái thú", một trong những pháo tự hành nổi tiếng nhất của Hồng quân Xô Viết trong thế chiến thứ hai.

Vào thế chiến II, Đức và Liên Xô chính là hai cường quốc quân sự chính sử dụng pháo tự hành trong chiến tranh. Đức áp dụng chiến thuật Chiến tranh chớp nhoáng - bộ binh và thiết giáp tấn công cùng với máy bay bổ trợ. Lực lượng quân đội Đức đã chế ra được rất nhiều loại pháo tự hành nổi tiếng và có hỏa lực cao. Trong cuộc tấn công Ba Lan (1939), cũng như trận chiến nước Pháp (1940) và Chiến dịch Barbarossa (1941)… quân đội Đức đã sử dụng pháo tự hành để tiêu diệt-phá hủy các cụm quân địch và các pháo đài. Thế chiến II cũng là thời kì mà một số loại pháo tự hành siêu nặng ra đời.
Cùng với Đức Quốc Xã, Liên Xô chính là nước thứ hai sử dụng pháo tự hành trong phần lớn trận chiến. Pháo tự hành của Liên Xô ra đời sau Đức Quốc Xã và có độ hỏa lực cao và sức chiến đấu tốt hơn pháo tự hành Đức. Nhưng tốc độ di chuyển và lượng đạn mang được của các pháo tự hành Liên Xô lại quá hạn chế. Điển hình chính là các pháo ISU-152 và ISU-122. Lực lượng pháo tự hành Xô-Viết có lớp giáp bọc rất dày và độ phá giáp của nó thì không thể tưởng tượng được. Pháo tự hành của Đức cũng vậy nhưng hơi kém hơn về hỏa lực bắn.

Pháo phản lực

2

Pháo phản lực 16 nòng BM-12 của Liên Xô

Từ thế chiến II, hệ thống pháo phản lực đã xuất hiện. Nước đi đầu trong lĩnh vực này chính là Đức Quốc Xã từ những năm 1930, nhưng họ không phát triển sâu loại vũ khí này. Tiếp theo là Liên Xô, họ đã chế ra được những dàn pháo phản lực Kachiusa - một thứ vũ khí chết người. Sau Kachiusa, người Mĩ và Anh đã bắt đầu tham gia chế tạo loại vũ khí mới mẻ này.
Đến thời hiện đại, pháo phản lực đã có nhiều chuyển biến về cả thiết kế và cấu tạo. Pháo phản lực đã có hệ thống đẩy tự động (khác với hệ thống phóng của Kachiusa), hệ thống định vị tên lửa. Đặc biệt hơn, hệ thống pháo phản lực hiện đại có thể phóng được rất nhiều tên lửa mỗi lần phóng (trung bình 20-40 quả tên lửa/mỗi lần phóng) hoặc phóng được cả đầu đạn hạt nhân-hoá học-sinh học. Pháo phản lực có thể tiêu diệt được cả một cụm quân, xe tăng (thiết giáp) hoặc phá huỷ tan tành bất kì một công trình xây dựng nào. Tuy nhiên, pháo phản lực có một điểm yếu đó chính là nạp đạn lâu (trung bình phải mất 10-20 phút để nạp đạn cho một loạt bắn).

Lựu pháo

2

Lựu pháo D-30 đang bắn

Trong các thời kì quân đội, ngoài pháo tự hành và pháo phản lực - lựu pháo cũng là một trong những binh chủng chính.
Lựu pháo thường có nòng dài, sử dụng đạn công phá hoặc mù. Lựu pháo có hệ thống đẩy bằng cách giật cò phía sau làm cho băng truyền đẩy đạn về phía mục tiêu. Lựu pháo thời hiện đại đã có nhiều cải tiến so với thời xưa.
Quân đội Đức Quốc Xã và Liên Xô trong Thế chiến II chính là hai lực lượng điển hình sử dụng lựu pháo. Hơn 80% tổn thất trong chiến tranh về cả sinh mạng, cơ sở hạ tầng,… là do lựu pháo gây ra. Tuy nhiên nó có một số khuyết điểm rất tai hại ở độ linh động và khả năng phòng vệ.

ĐỒNG MINH


  • 4,5 inch QF

  • 15 funt BLC

  • 15 funt Mark1

  • 194mm GPF

  • Bishop

  • Hotchkiss Universal

  • L118

  • M12

  • M18 Hellcat  

  • Mortar

  • ODE

  • OTO Melara

  • Rimalo

  • Royal Ordnens

  • Santa – Barbara

  • Shkoda

  • Soltam

  • Tornado-G

PHÁT XÍT


  • 77 mm M96nA

  • 77mm FK 16

  • 88mm Flak

  • 128mm Pak 44

  • Bertha Lớn

  • Ciedzhe

  • Elefant

  • FH17

  • Flak 38

  • Flak 40  

  • Grille

  • Hetzer

  • Hummel

  • IG 18

  • Jagdpanther

  • Jagdpanzer IV

  • Jagdtiger

  • Krupp

  • Marder

  • Pak 40

  • Stug-III

  • Type 35

  • Pari

LIÊN XÔ

  • annoPanzerJager_I.png
    2S25 Sprut-SD
  • annoG20_Marder_II.png
    122mm D-30
  • annoG101_StuG_III.png
    Katyusha
  • annoHetzer.png
    Object 268
  • annoMarder_III.png
    SPG-9
  • annoG104_Stug_IV.png
    SU-100  
  • annoPz_Sfl_IVc.png
    SU-122
  • annoStuG_40_AusfG.png
    SU-152
  • annoDickerMax.png
    USV  
  • annoJagdPzIV.png
    ZIS-30